
Các con đường hình thành từ nguyên của trà. Nguồn: worldhistory.org
Bắt đầu từ thời nhà Đường, “茶” (trà) mới được thống nhất để dùng gọi tên cho trà sau nhiều cách gọi khác nhau như “荼” (đồ), “茗” (mính), “荈” (suyễn). Chữ trà “茶, chá” trong tiếng Trung xuất phát từ chữ “荼” (đồ) được giản lược một nét ngang. Chữ “trà” thuộc bộ thảo chứa chữ “nhân” (人) nằm trong chữ “thảo” (艹) và chữ “mộc” (朩): “Thảo mộc chi gian tàng nhân tính, nhân tự biến hóa thảo mộc trung” (草木之间藏人性, 人字变化草木中).
Từ Trung Quốc, trà đến với phần còn lại của thế giới theo nhiều con đường khác nhau, nhưng chủ yếu là theo những tuyến thương mại đường bộ và trên biển. Vì vậy, “trà” trong các ngôn ngữ nước ngoài cũng chịu sự ảnh hưởng bởi những tuyến thương mại này. Trên thế giới, trà chủ yếu được gọi theo 3 cách:
Đa phần các nước châu Á lân cận Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam đều tiếp xúc với trà từ sớm thông qua nhiều con đường khác nhau như cai trị, ngoại giao, di dân hay truyền bá Phật giáo. Các nước này vay mượn trực tiếp tiếng Hán để gọi tên trà trong ngôn ngữ của mình, như “おちゃ” ([o]chā) trong tiếng Nhật, “차” (cha) trong tiếng Hàn, “ชา” (chā) trong tiếng Thái, “trà” trong tiếng Việt. Trường hợp ngoại lệ không phải một quốc gia châu Á nhưng vẫn gọi theo cách này là “chá” trong tiếng Bồ Đào Nha.
Từ đầu thế kỷ 17, các nhà buôn Hà Lan đã đến vùng Quảng Đông – Phúc Kiến để tiến hành mua bán trà, họ nghe được từ “tê” (trà) trong tiếng Mân Nam để gọi thành “thee” trong tiếng Hà Lan. Là nhà nhập khẩu trà hàng đầu châu Âu trong những ngày đầu tiên, Hà Lan đã mang sự ảnh hưởng của từ “Thee” đến nhiều ngôn ngữ của các nước Tây Âu khác, như “tea” trong tiếng Anh và Latin, “thé” trong tiếng Pháp, “Tee” trong tiếng Đức, “tè” trong tiếng Italia, “té” trong tiếng Tây Ban Nha.
Các nước Đông Nam Á đã từng đóng vai trò trung tâm trung chuyển trà từ Trung Quốc sang châu Âu như Indonesia, Malaysia cũng gọi trà là “teh”.
Con đường Tơ lụa đã đưa trà đến với thế giới Ba Tư, từ đó tiếp tục lan truyền khắp phần còn lại của vùng Tây Á / Trung Đông và Bắc Phi. Cách gọi “chay” trong tiếng Ba Tư cổ đại đã ảnh hưởng đến tên gọi của trà ở một số nước như “चाय” (chaay/chai) trong tiếng Hindi, “чай” (chaĭ) trong tiếng Nga, “شاي” (shay) trong tiếng Ả Rập, “çay” trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.
Từ “trà” trong tiếng Việt là từ Hán Việt, xuất phát trực tiếp từ chữ “茶, chá” trong tiếng Trung Quốc; trong khi đó, cách gọi khác của trà là “chè” lại có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer Đông. Từ “chè” đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 17, được mô tả trong “Từ điển Việt – Bồ – La” của Alexandre de Rhodes (xuất bản năm 1651).
Người Việt ở vùng miền bắc và miền trung thường gọi trà là “chè”, còn miền nam thì vẫn gọi là “trà”. Ngoài ra, ngày nay khi nói về trà, người Việt có xu hướng sử dụng phân biệt từ “trà” để nói về đồ uống, còn “chè” dùng để chỉ loài cây trồng.
—
Bài viết nằm trong series “Thưởng Trà Du Ký” của tác giả Chi Nguyễn độc quyền dành cho Teacrop.